Ken Yeang là một kiến trúc sư Malaysia đã sớm trở thành một bậc thầy một cây đại thụ những phát kiến của ồng về sinh thái đã đưa ông lên một trong những vị trí quan trọng nhất của kiến trúc thế giới giai đoạn đầu thế kỷ XXI.
Nhìn lại quá trình phát triển của kiến trúc sinh thái ta thấy có những điểm mốc và những đối tượng nghiên cứu khác nhau:
Ngay từ những năm 1960 Charles Correa và Ken Yeang đã quan tâm đến mối liên hệ giữa kiến trúc và khí hậu sinh thái.
Trong suốt thời gian 40 năm sau thực tiễn về kiến trúc sinh thái được triển khai rộng rãi trên thế giới đặc biệt là ớ châu u và Bắc Mỹ chung cư Ecolife Capitol.
Các thành quả thể hiện ở nhiều mặt: sản xuất các loại vật liệu sinh thái kính trong suốt cách nhiệt vật liệu quang điện sinh thái tốn ít năng lượng. Ecolife Tây Hồ..
Xây dụng công trình Bio-sphere ở Mỹ năm 1999 Thủ Đô Invest.
Trước hết trong thiết kế kiến trúc một trong những nguyên tắc chỉ đạo mới là coi trọng hai nhân tô khí hậu và khu vực. Phương pháp luận này được Correa ứng dụng vào 2 công trình của ông là toà nhà trụ sở ECIL và MRF Building. Khi thiết kế hệ thống mái của MRF Building Correa đã quan tâm đến tư duy về mái nhà nhiệt đới của Le Corbusier khi ông xây dụng nhũng kiệt tác biệt thự Shodan ở Ahmedabad và Cung Tư pháp ớ Chandigard n Độ. Hệ quả của các hình thức mái mà Correa đã làm sau này là tìm đến sự thích ứng của kiến trúc với khí hậu nóng khô hoặc nóng ẩm.
Trong khi đó Ken Yeang nhận xét thấy nền kiến trúc truyền thống chỉ mới quan tâm đến sinh thái ở một mức độ nhất định mà kiến trúc cần được xem là một bộ phận hữu cơ của hệ thống tuần hoàn của sự sống. Cho nên sinh thái học và sinh vật học môi trường là những khái niệm mà các kiến trúc sư và các Designer phải quan tâm.
Từ đó Ken Yeang đã thiết lập một tư duy thiết kế mới cho nhà cao tầng ở khu vực Đông Nam Á phù hợp với điều kiện khí hậu ở đây: nhà cao tầng cần có không gian mở đưa cây xanh vào nhà cao tầng với tường có 2 lớp nhà cao tầng có không gian hoà nhập và có tầng không khí nhà cao tầng có các tấm chắn nắng và vườn hoa trên mái nhà cao tầng có trung sảnh và thông gió tự nhiên… tất nhiên các quan niệm này có thể áp dụng được cho cả kiến trúc thấp tầng.
Các quan điểm này được Ken Yeang ứng dụng triệt để vào các tác phẩm của ông mà ở phần sau sẽ được phân tích kĩ hơn.
Những năm nửa đầu của thập niên 1970 đã phát sinh nguy cơ khan hiếm dầu lửa do đó thế giới tập trung vào việc nghiên cứu nhà ở năng lượng dùng nãng lượng mặt trời. Đồng thời là sự quan tâm đến nghiên cứu tính năng bảo ôn cách nhiệt của vật liệu như kính ở giữa có không khí tường ngoài và mái có lớp cách nhiệt…
Những năm 1980 nhiều nhà ở bảo tàng thư viện được xây dựng có tính tới việc tiết kiệm điện năng cho việc sưởi ấm. Toà nhà UNESCO ở Paris đã được chỉnh sửa theo phương hướng đó.
Những năm 1990 ở Đức xây dựng kiến trúc có phòng sử dụng nãng lượng mặt trời xoay được ở Đan Mạch xây dựng những kiểu nhà ở tiết kiệm nãng lượng ở Nhật Bản xây dựng nhà ở cao tầng sinh thái.
Năm 2000 ở thành phố Umea Thuỵ Điển công ty Ford của Mỹ đã xây dựng Showroom ôtố xanh đầu tiên trên thế giới được gọi là khu vực xanh (Green Zone) hoàn toàn sử dụng nãng lượng mặt trời năng lượng gió và nãng lượng tái sinh.
Song song với kiến trúc sinh thái khái niệm sinh thái – khí hậu học cũng được đưa vào thiết kế đô thị nhằm đưa ra các kiểu đô thị (Urban Type) đáp ứng những yêu cầu về tiết kiệm nguồn lực để xây dựng môi trường và ứng dụng được các tiến bộ kĩ thuật trong kiến trúc. Trên cơ sở này xuất hiện khái niệm Ephemeralization với ý nghĩa là sử dụng vật chất và năng lượng ít mà lại làm được nhiều việc. Do đó phải coi trọng kĩ thuật mới và phát triển một lí luận mới là lí luận hiệu xuất.
Ở phương Tây gần đây xuất hiện một trào lưu mới về kiến trúc sinh thái là trào lưu có tên Future Systems (hệ thống tương lai) các kiến trúc sư của trường phái này vừa tôn trọng vai trò của sinh thái vừa chú trọng đến công nghệ. Họ sử dụng thường xuyên thuật ngữ High-eco-Tech và đưa ra những dự án hết sức đồ sộ: dự án Đảo xanh ở Luân Đôn (đề xuất 1998) và dự án Z ở Luân Đôn và ở Touluse (1995).

Thực tiễn kiến trúc sinh thái ở phương Tây cho thấy bất cứ với quy mô kiến trúc nào ý tưởng này cũng có thể áp dụng.
Kiến trúc nhỏ thì có Low Energy Housing (nhà ở năng lượng thấp) ở Đức.
Kiến trúc vừa thì có Archaeolink Prehistory Centre (Trung tâm tiền sử Aberdeenshire) ở Anh do Edward Cullinam Architects thiết kế.
Kiến trúc lớn thì có Vãn phòng hãng Daimler Benz ở Berlin do Richards Roger thiết kế.
Chúng tôi vừa điểm lại cục diện của kiến trúc sinh thái trong 4 thập niên vừa qua của thế giới với nhiều thành tựu ở nhiều nơi nhiều nước.
Phần tiếp theo như đề mục của bài đã xác định là dành cho những tiếp cận của Ken Yeang đối với kiến trúc sinh thái ta cần có một chương mục riêng về ông mà ở phần trên ta chỉ mới điểm xuyết qua về ông với tư cách là người sáng lập một học thuyết chứ chưa đi sâu. Trên một bình diện chung nghiên cứu như một Case Study (trường hợp nghiên cứu tình huống) về Ken Yeang là cần thiết vì chúng ta không nên chỉ dừng lại ở mức thế giới mà nên tìm hiểu một người được coi là một khuôn mặt sáng giá của kiến trúc khu vực Đông Nam Á.
Danh mục các tác phẩm đã xây và các đồ án nghiên cứu quan trọng của Ken Yeang
bao gồm:
Roof – roof House nhà riêng của Ken Yeang (1984).
Plaza Atrium Kuala Lumpur (1981 – 1984).
IBM Plaza Kuala Lumpur (1983 – 1987).
Menara Boustead Kuala Lumpur (1983 – 1987).
Menara Mesiniaga Kuala Lumpur (1992).
MBF Tower Penang (1994).
China Tower II Hải khẩu Trung Quốc (1995).
Central Plaza Kuala Lumpur (1996).
Menara TA1 Kuala Lumpur (1996).
Casa – Del – Soi Apartments ngoại Ô Kuala Lumpur 1996.
Menara UMNO Penang (1998).
Menara Lam son Square TP Hồ Chí Minh (1994 – chưa xây).
Hitechmiaga HQ (1995 – chưa xây).
Tokyo – Nara Tower Nhật Bản (1995).
Trụ sở Menara MISC Shah Alam (1997).
Shanghai Amoury Tower Thượng Hải (1997 – chưa xây).
Trụ sở Gamuda Shah Alam
FACB HQ Selangor (1997).
TA2 Serrice Apartments Kuala Lumpur (1997).
Taman Tun Dr Ismail – 6D (TTDT – 6D) Kuala Lumpur (1997).
Selangaor Turf Cub Kuala Lumpur (1992).
Guthrie Pavilion Selangor (1998).
Nhà tháp Triển lãm Singapore.
The Tropical Verandah City (1986).
The Bioclimatic City: Johor Bahru 2005.
Quy hoạch chung Lamnkota (1996).
Eco – Tech City quy hoạch chung ở Rostock Đức (1997)…
Ken Yeang sinh năm 1948 ở Penang một hòn đảo nhỏ ở phía Bắc bán đảo Malaysia nãm 13 tuổi (1961) được bố mẹ gửi sang học một trường nội trú ở Anh xa nhà những 12 nghìn dặm. Sau đó ông theo học trường Cheltenham rồi năm 1966 ông bước đầu tiếp cận với thế giới kiến trúc bằng cách có một chỗ đứng trong trường Architectural Association School of Architectural (AA) ở Luân Đôn. Năm 1971 Yeang nghiên cứu tiếp tục ở Học viện Wolfson thuộc Đại học Cambridge rồi ở bộ môn Nghiên cứu KI thuật của Trường Kiến trúc Cambridge dưới sự lãnh đạo của Alex Pike và John Frazer. Sau đó Yeang hoàn thành luận án tiến sĩ có tên là Xây dựng một khuôn khổ lí thuyết cho việc kết hợp những điều kiện sinh thái vào thiết kế và quy hoạch của môi trường xây dựng.
Nãm 1975 trở về châu Á đầu tiên Ken Yeang tham gia vào văn phòng thiết kế Akitekt Bersekutu ở đây có nhiều thành viên là người Malaysia Trung Quốc và châu u trong đó có David Joyce là tác giả của Bệnh viện đa khoa Kuala Lumpur mà kiến trúc công trình này chịu ảnh hưởng rất rõ nét của Le Corbusier.
Năm 1976 Yeang hợp tác với Tengku Robert Hamzah một Hoàng thân của gia đình hoàng tộc Kelantan trước đây cũng đã từng du học ở trường AA ở Anh. Từ đó hai người hợp tác chặt chẽ với nhau và từ văn phòng này sự nghiệp của Yeang ra hoa kết trái. Yeang về nước đúng vào thời kỳ quá trình Mã Lai hoá được đẩy mạnh vấn đề chủ nghĩa dân tộc bản sắc dân tộc vấn đề giải pháp kiến trúc cho khu vực Đông Nam Á… đang trở nên những vấn đề bức xúc những điều đó đã thôi thúc Yeang viết quyển Tropical Urban Regionalism (Chủ nghĩa Địa phương đô thị nhiệt đới).
Mấy chục năm qua từ lí thuyết và thực tiễn bổ sung cho nhau Yeang đã không dừng lại ở những thủ pháp mà đã từ thủ pháp đúc kết thành những triết luận những tư tưởng cho một học phái mới.
Chẳng hạn Yeang luôn luôn quan tâm đến các không gian chuyển tiếp (transitional spaces) đến việc xem xét cả toà nhà như một cái van đóng mở được (từ đó sẽ dễ dàng đi đến khảng định bản sắc và tính địa phương) Yeang đề xướng khái niệm cảnh quan chiều cao (Vertical landspcaping) khái niệm thẩm mỹ học những cạnh mềm (the soft – edged aesthetices) v.v…
Năm 1995 toà nhà Menara Mesiniaga nhận giải thưởng kiến trúc Aga Khan. Charles Jencks trong ban giám khảo đã nhận định: cuối cùng thì tiếng gọi của kiến trúc của dự án nhà chọc trời của Wright những năm 1950 đã vọng tới một kiến trúc mới của những năm 1990.
Peter Eisenmann một thành viên khác của Hội đồng giám khảo thì gọi Menara Menisiaga là một trong số ít những đồ án kiến trúc đã cống hiến một tư tưởng mới cho văn hoá chung của kiến trúc.
Tiếp theo những chủ đề mà Ken Yeang theo đuổi đã được toàn cầu hoá trên cơ sở những lí thuyết của những cao ốc sinh khí hậu mà Yeang tiếp tục xây dựng với những tư tưởng về thiết kế năng lượng – thấp thụ động (pasive low energy design) thiết kế với thiên nhiên (designing with nature) về những nguyên tắc của kiến trúc sinh thái Yeang nhấn mạnh: Phải có một sự xem xét cẩn thận để sử dụng các năng lượng và các vật liệu một cách bền vững đối với chu trình sống của một hệ thống kiến trúc từ nguồn các vật chất tái sử dụng tiếp tục mà không bỏ đi.
Ngoài việc quan tâm đến nắng và gió đến lớp lợp nền sàn và việc ốp phủ ngoài tường nhà cao tầng Yeang còn quan tâm đến mặt đứng thứ năm của nhà.
Ở Guthrie Pavilion Golf Club ở Selangor Malaysia (1998) sau khi hoàn tất đã được mệnh danh là cái ô của trò chơi Golf do hình ảnh lôi cuốn của hệ mái và kết cấu mái khổng lồ của nó. Công trình đã trớ thành một cái Cột mốc (Landmark) của khu vực. Gió có thể lùa vào và chơi đùa thoải mái cùng với con người dưới hệ thống mái đó. Yeang đã biết sử dụng nguồn không khí một cách thông minh.
Với toà nhà tháp triển lãm Singapore (Exhibition Tower) cao 26 tầng đặt ở nơi giao nhau giữa đường Waterloo và dường Victoria ở đây có đủ các không gian triển lãm mua bán hội thảo ở ăn uống và làm việc… là một minh chứng cho những tư tưởng mới mẻ nhất của Yeang về sinh thái ở trên mặt đứng luôn luôn được đục khuyết vào những không gian hiên lớn nối liền với các atrium (trung sảnh) chạy từ dưới lên nối thông các tầng các tấm chắn nắng được đưa ra xa kết nối với các đường dốc nghiêng chạy ở viền ngoài của mặt đứng nhà nối liền các tầng trên mái đặt các tấm hút nhiệt mặt trời lấp loáng… Các loại cây cối thích hợp đã lựa chọn đẻ’ tái sinh màu xanh cho khu vực cây cối theo chiều cao được đưa lên không gian các tầng từ tầng dưới cùng đến đỉnh mái đều khoác một màu xanh nước mưa hội tụ trên mái và nước thải qua tinh lọc lại được dùng để tưới và rửa. Diện tích các loại mặt sàn dùng cho các chức năng khác nhau khi cần đểu có thể đổi thành các văn phòng làm việc hiệu suất sử dụng diện tích lên tới 75% mức độ tiêu hao vật liệu và năng lượng đạt tới mức thấp nhất.
Trong lĩnh vực thiết kế đô thị Ken Yeang đã thiết kế nhiêu dự án. Quan điểm của ông là phải xem đô thị nhiệt đới như là ẩn dụ của thiết kế và quy hoạch đô thị.
Hình ảnh đô thị nhiệt đới cũng bao gồm các không gian công cộng bán công cộng và riêng tư nhưng độ mở của những không gian trung chuyển có yêu cầu riêng. n dụ này đặt cơ sở trên sự có lợi của việc tôn trọng môi trường. Yeang thấy rõ sự quan trọng của việc tiêu hao ít nãng lượng của đô thị và coi trọng hiệu ích kinh tế của nó. Việc tiêu hao ít năng lượng mà vẫn tăng cường độ dễ chịu của môi trường và chất lượng cao của kiến trúc là sự lựa chọn của mỗi kiến trúc sư. Điều đó dẫn đến văn hoá đô thị và diện mạo đô thị thay đổi. Cần phải tăng cường tính quy thuộc của khu vực cũng có nghĩa là tạo được bản sắc đặc thù của đô thị (có nghĩa là con người sẽ cảm thấy sự khác nhau giữa nơi này với nơi kia). Sách lược thiết kế đô thị nhiệt đới không tránh khỏi các nhàn tố khí hậu và tính chất riêng của khu vực. Từ những quan điểm đó giới vãn hoá và giới kiến trúc xếp Ken Yeang vào lớp người đại biểu của Chủ nghĩa địa phương mang tính phê phán (Critical Regionalism) mà lại mang đặc thù vùng Đông Nam Á.
Việc chi tiết hoá các khái niệm này qua những bản vẽ chi tiết cho thấy Ken Yeang rất quan tâm đến cảnh quan cây xanh (Landscaping) đến không gian chuyển tiếp (Transitional spaces) đến cấu trúc và sự biến hoá của đô thị (Urban Fabric and Variations) và mạng quy hoạch (Planning Grids).
Các bài viết và sách do Ken Yeang công bố suốt mấy chục năm qua có một mật độ và một độ dày hết sức lớn có nhiều tác phẩm quan trọng như The Tropical Verandah City (Đô thị Vêranđa nhiệt đới) Rethinking the Environmental Filter (Suy nghĩ lại về sự tinh lọc môi trường) The Tropical City as a Metaphor for Design (Đô thị nhiệt đới là ẩn dụ cho thiết kế).
Để kết luận chúng tôi xin mượn lời bình luận của các Nhà phê bình kiến trúc đối với một số tác phẩm của Ken Yeang: Toà nhà Roof-roof House trông thật huyền diệu trong bóng trời chiều. Ngôn ngữ của nó trông đặc Le Corbusier (Al) Không gian trung tâm của toà nhà – trụ sở Gamuda có thể được nhìn thấy từ tất cả các tầng nhà (Ng) Nhìn từ xa toà nhà tháp MBF có hình ảnh của chuyển hoá luận kết duyên với tinh thần của Archigram (Robert Powell).

Bài viết trong chuyên mục Nhà đất được cập nhập hàng tuần, để tham khảo thêm thông tin vui lòng truy cập http://benhviendoanhnghiep.net

Leave a Reply

Post Navigation